Tại Diễn đàn Net Zero Việt Nam 2025, kỹ sư Hồ Quang Cua, cha đẻ giống gạo ST25, đã chia sẻ về hành trình tiến tới Net Zero bằng một cách rất gần gũi với thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Với ông, Net Zero không phải là khái niệm xa lạ hay khẩu hiệu mới xuất hiện, mà là kết quả của quá trình quan sát tự nhiên, học từ đồng ruộng và kiên trì thực hành nông nghiệp tuần hoàn trong nhiều thập kỷ.
Ông nói rằng mình đến với nông nghiệp tuần hoàn một cách tự nhiên, giống như một đứa trẻ lớn lên cùng những câu hỏi vô tư khi quan sát ngoại cảnh. Những câu hỏi ấy dần được giải đáp qua thực tế sản xuất, qua các lần chứng kiến thiên nhiên tự cân bằng và qua quá trình tìm kiếm phương pháp canh tác ít phụ thuộc vào hóa chất. Từ đó, ông nhận ra con đường mình đang đi chính là hướng tới Net Zero.
Từ quan sát tự nhiên đến tư duy nông nghiệp tuần hoàn
Hành trình của kỹ sư Hồ Quang Cua bắt đầu từ những trải nghiệm rất cụ thể trên đồng ruộng. Năm 1987, ông theo Giáo sư Nguyễn Thị Thu Cúc khảo sát sự biến động của các loài côn trùng có lợi sau một đợt phun hóa chất diệt rầy nâu. Sau hai tuần quan sát, kết luận được đưa ra là môi trường còn tốt nên thiên địch phục hồi nhanh. Đây là một dấu mốc quan trọng, giúp ông nhìn rõ vai trò của hệ sinh thái tự nhiên trong việc cân bằng sâu bệnh.
Đến năm 1991, khi đi chỉ đạo diệt rầy nâu tại vùng chuyên canh giống lúa IR42 ở huyện Mỹ Xuyên với quy mô 13.500ha, ông tiếp tục chứng kiến một bài học lớn từ tự nhiên. Khi mật độ rầy lên tới 3.000 con/khóm lúa, thuốc trừ rầy trong kho Nhà nước đã hết và không còn nguồn bổ sung, ông từng nghĩ chỉ có “trời cứu”. Mười ngày sau quay lại, toàn bộ lượng rầy nâu đang chích hút lúa đã bị nấm xanh ký sinh và chết sạch. Nhờ lực lượng tự nhiên ấy, một vùng nguyên liệu hơn 3 vạn hecta lúa IR42 thoát khỏi sự tàn phá của rầy nâu, hàng vạn hộ nông dân tránh được nguy cơ mất mùa.

Có thể bạn quan tâm:
Những trải nghiệm đó khiến ông Cua ngày càng tin rằng đồng ruộng không chỉ là nơi cây lúa sinh trưởng, mà còn là một hệ sinh thái với nhiều mối quan hệ hỗ trợ, đối kháng và cân bằng lẫn nhau. Nếu biết tôn trọng và kích hoạt đúng quy luật tự nhiên, người nông dân có thể giảm dần sự phụ thuộc vào hóa chất.
Năm 1993, ông tiếp cận các tài liệu khoa học về IPSM, tức quản lý tổng hợp đất và cây trồng. Trước đó, chương trình IPM về quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng đã được triển khai với sự hỗ trợ của FAO. Sau hơn 30 năm theo dõi và thực hành, ông nhận thấy nếu chỉ quản lý dịch hại theo hướng dựa nhiều vào hóa chất, thiên địch ngoài đồng ruộng sẽ suy giảm, đất đai suy thoái và lượng hóa chất sử dụng ngày càng phải tăng lên. Hệ quả là nguy cơ tồn dư hóa chất trên nông sản cũng nhiều hơn.
Trong khi đó, IPSM tiếp cận sản xuất theo hướng liên ngành, kết hợp nông hóa thổ nhưỡng, giống, phân bón, bảo vệ thực vật, quản lý nước tưới và các sinh vật có lợi trong hệ canh tác. Theo ông Cua, IPSM thực chất là nền tảng của nông nghiệp tuần hoàn, một cơ sở khoa học tổng hợp giúp tiến tới Net Zero.
Đất khỏe, cây khỏe và giảm phát thải từ đồng ruộng
Theo kỹ sư Hồ Quang Cua, muốn cây khỏe thì trước hết phải có đất khỏe. Đây là yếu tố tiên quyết trong quá trình xây dựng nền sản xuất nông nghiệp tuần hoàn.
Để làm đất khỏe, ông nhấn mạnh việc điều chỉnh pH đất về trạng thái phù hợp, không quá mẫn. Trong quá trình làm đất, ông không khuyến khích sử dụng vôi nóng mà dùng vôi đã qua chế biến hoặc phun qua lá. Bên cạnh đó, việc bón hoặc phun Humate giúp giải phóng nhanh các nguyên tố có lợi cho cây trồng, làm đất tơi xốp và tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển.
Một yếu tố quan trọng khác là bổ sung vào đất các loại vi khuẩn cố định đạm, phân giải lân nhằm giảm nhu cầu sử dụng phân khoáng. Việc bón phân hữu cơ kết hợp với phun nấm hoặc vi khuẩn phân giải hữu cơ giúp xử lý rơm rạ vụ trước, giải phóng Kali trong rơm rạ, bổ sung hữu cơ cho đất và tạo môi trường cho các sinh vật nhỏ đào hang, làm đất tơi xốp kể cả khi ruộng ngập nước.
Theo ông Cua, muốn có đất khỏe cũng phải biết hạn chế phân bón tổng hợp đưa vào đồng ruộng. Khi lượng phân hóa học quá nhiều, hệ vi sinh vật có lợi dễ bị tổn thương, khó thực hiện vai trò “tuần hoàn” trong đất. Đây là điểm cốt lõi của cách làm nông nghiệp giảm hóa chất, giảm phát thải và phục hồi sức sống của đất.
Bên cạnh đất khỏe, cây lúa cũng cần một không gian sống hài hòa. Môi trường sống của cây lúa đồng thời là môi trường của nhiều loài sinh vật khác. Trong đó có côn trùng gây hại, nhưng cũng có rất nhiều thiên địch như nhện, bọ rùa, bọ cánh cứng, bọ niễng, ong ký sinh, ruồi ký sinh và các nguồn bệnh có ích. Nếu lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật, những “người bạn của nông dân” này sẽ bị tiêu diệt, làm mất cân bằng đồng ruộng.
.png)
Ông Cua cho rằng quá trình làm đất khỏe, cây khỏe chính là quá trình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn. Đặc biệt, giải pháp canh tác lúa rút khô giữa mùa và cuối mùa giúp thúc đẩy hoạt động tuần hoàn, làm vi sinh vật hoạt động mạnh hơn, hữu cơ phân hủy nhanh hơn và giảm phát thải khí nhà kính.
Quá trình này còn giúp tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên nhờ thu hồi lân, kali và chất hữu cơ có ích từ rơm rạ. Đồng thời, nó tận dụng nguồn nitơ trong không khí để tổng hợp thành đạm cho cây trồng, giảm dần phân bón hóa học và hóa chất độc hại.
Với kỹ sư Hồ Quang Cua, càng ít hóa chất đưa vào ruộng lúa thì hương vị cơm gạo càng tự nhiên. Rút khô giữa mùa giúp cây lúa ra rễ mới, giảm chiều cao, hạn chế đổ ngã. Rút khô cuối mùa giúp cây lúa gia tăng tổng hợp Proline, làm hạt gạo thơm hơn. Ruộng lúa ít phát sinh các vi sinh vật bám vào vỏ trấu nên gạo cũng sạch hơn.
Lúa - tôm, ST25 và con đường phát thải thấp
Một phần quan trọng trong hành trình Net Zero của kỹ sư Hồ Quang Cua là hệ sinh thái lúa - tôm ở vùng ven biển, đặc biệt tại bán đảo Cà Mau. Đây là vùng đất thấp, có mùa mặn và mùa ngọt rõ rệt, phù hợp với mô hình luân canh tôm vào mùa khô và lúa vào mùa mưa.
Theo ông Cua, hệ sinh thái lúa - tôm manh nha từ năm 1990, khi các trại giống ở miền Trung sản xuất được con giống tôm sú. Đến năm 2001, mô hình này chính thức phát triển mạnh hơn khi Chính phủ cho phép chuyển đổi một phần diện tích ruộng lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng, vật nuôi khác. Giai đoạn 2001 - 2006, khoảng 400.000ha đất lúa kém hiệu quả được chuyển sang nuôi tôm.
(1).png)
Tuy nhiên, giai đoạn đầu của mô hình lúa - tôm cũng bộc lộ nhiều khó khăn. Nguồn nước ngọt phục vụ cây lúa chưa ổn định, khiến năng suất thấp hoặc thiệt hại, nhiều nơi nông dân bỏ lúa. Cơ cấu giống lúa chủ yếu là giống dài ngày, năng suất thấp, giá bán thấp. Việc chưa cơ giới hóa khâu thu hoạch cũng khiến chi phí cao, lúa dễ giảm chất lượng, nhất là khi gặp mưa cuối vụ.
Một điểm yếu khác là sản xuất chưa có liên kết. Nông dân xuống giống không đồng loạt, sử dụng nhiều chủng loại giống khác nhau, thiếu cơ giới hóa và chưa hình thành được quy trình rút khô giữa mùa, cuối mùa.
Năm 2020, doanh nghiệp gạo ST của ông Hồ Quang Cua phối hợp với các cơ quan chuyên môn tại Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang đưa giống ST25 vào canh tác ở vùng lúa - tôm. Đây là giống lúa có chu kỳ ngắn, dễ trồng, giá bán cao và từng đạt danh hiệu gạo ngon nhất thế giới năm 2019. Tại Cà Mau và Bạc Liêu, Nhà nước hỗ trợ 50% chi phí mua giống, tạo điều kiện để nông dân tiếp cận giống mới.
Giai đoạn 2020 - 2021, doanh nghiệp chưa cam kết tiêu thụ toàn bộ lúa của nông dân, mà chỉ mua lúa được thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp do có số lượng tập trung, lúa khô và sạch. Đến giai đoạn 2021 - 2024, nhờ hiệu quả của thu hoạch bằng máy, chủ máy và nông dân liên tục cải tiến cách đưa máy vào ruộng. Từ đó, các giải pháp rút khô giữa mùa và rút khô cuối mùa ngày càng hoàn thiện.
Dần dần, vùng lúa - tôm bán đảo Cà Mau trở nên sôi động vào đầu tháng 12 âm lịch, khi thương lái các nơi đổ về thu mua lúa, có lúc đẩy giá lúa tươi tại ruộng lên tới 13.000 đồng/kg. Thương hiệu Gạo Ông Cua ST25 lúa - tôm từ đó cũng trở nên phổ biến hơn trên phạm vi cả nước.
.png)
Với những hộ được bao tiêu khoảng 2.000ha, doanh nghiệp đầu tư phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học và hướng dẫn thực hành theo nguyên lý IPSM. Qua đó, thương hiệu Gạo Ông Cua ST25 lúa - tôm được hình thành trên nền tảng sản xuất an toàn, ít hóa chất và gắn với hệ sinh thái đặc thù.
Cùng với giống ST25, doanh nghiệp của ông Hồ Quang Cua còn phối hợp với các cơ quan chuyên môn vùng bán đảo Cà Mau tổ chức sản xuất ST24, ST25 theo tiêu chí của Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Quy trình sản xuất áp dụng mật độ sạ bình quân 80 - 100kg/ha, giảm 30% phân hóa học, giảm 75% thuốc hóa học và rút khô giữa mùa 2 lần.
Phương pháp này mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt với năng suất lúa lên tới 6 tấn/ha, giá bán bình quân 9.200 đồng/kg, cao hơn lúa thường khoảng 3.000 đồng/kg. Theo ông Cua, giá vốn thấp giúp lợi nhuận trước mắt gấp đôi lúa thường. Với mức chênh lệch 18 triệu đồng/ha, nếu áp dụng trên quy mô 100.000ha, lợi nhuận tăng thêm có thể đạt 1.800 tỷ đồng/năm. Lợi ích này còn đến từ sự ổn định sản xuất và giúp vụ tôm an toàn hơn.
Từ câu chuyện ST25 vùng lúa - tôm, có thể thấy cách tiến về Net Zero của kỹ sư Hồ Quang Cua không bắt đầu từ những khái niệm xa xôi, mà từ việc làm cho đất khỏe, cây khỏe, giảm hóa chất, tận dụng rơm rạ, nuôi dưỡng vi sinh vật có lợi và tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết.

Ông cũng đề xuất các cơ quan tư vấn, doanh nghiệp công nghiệp có nhu cầu mua tín chỉ carbon cần liên hệ với chính quyền địa phương để tổ chức sao cho người dân được hưởng lợi từ sản xuất phát thải thấp, qua đó xây dựng các công trình công ích tại địa phương. Theo ông, đó mới là tinh thần đúng của nông nghiệp tuần hoàn.
Hành trình tiến về Net Zero của “cha đẻ” gạo ST25 vì vậy không chỉ là câu chuyện của một giống gạo nổi tiếng. Đó là cách nhìn lại mối quan hệ giữa con người, cây lúa, đất đai, con tôm và hệ sinh thái đồng ruộng. Khi sản xuất được tổ chức theo hướng tuần hoàn, giảm phát thải và chia sẻ lợi ích với nông dân, hạt gạo Việt không chỉ ngon hơn, sạch hơn mà còn có thêm giá trị bền vững trong tương lai.
https://special.nhandan.vn/chadegaoST25-chungtoitienveNetzeronhuthenao/index.html





