Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 đang mở ra một hướng đi mới cho ngành lúa gạo Việt Nam. Sau thời gian triển khai thí điểm tại nhiều địa phương miền Tây, mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ rệt: năng suất tăng, chi phí giảm, lợi nhuận cải thiện và phát thải khí nhà kính được cắt giảm.
Tuy nhiên, nghịch lý đang đặt ra là dù mô hình “có lời”, nhiều nông dân vẫn chưa thật sự mặn mà tham gia. Nguyên nhân không nằm ở kỹ thuật canh tác, mà chủ yếu đến từ bài toán đầu ra, giá lúa chưa vượt trội, liên kết doanh nghiệp còn chậm, hạ tầng chưa đồng bộ và nguồn vốn tín dụng chưa được khơi thông.
Mô hình cho thấy hiệu quả kinh tế rõ ràng
Sau 2 năm thực hiện đề án, TP Cần Thơ đã triển khai tại 64 xã, phường với diện tích 104.500ha. Hiện địa phương có 12 mô hình thí điểm, mỗi mô hình quy mô 50ha. Dự kiến đến năm 2030, Cần Thơ sẽ mở rộng diện tích lên 170.877ha, với sự tham gia của 171 tổ hợp tác và hợp tác xã.
Một trong những kết quả đáng chú ý nhất là nông dân giảm mạnh lượng giống gieo sạ, từ 30–50% tùy vụ. Việc giảm giống không chỉ giúp tiết kiệm chi phí đầu vào, mà còn làm ruộng thông thoáng hơn, hạn chế sâu bệnh, giảm đổ ngã và tạo điều kiện để cây lúa sinh trưởng tốt hơn.
Theo thông tin từ ngành nông nghiệp TP Cần Thơ, nhờ giảm lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, tổng chi phí sản xuất trong mô hình thí điểm giảm trung bình hơn 1 triệu đồng/ha. Trong khi đó, lợi nhuận cao hơn từ 1,3–6,5 triệu đồng/ha, tương đương tăng 6,6–36,7%, đồng thời nông dân còn có thêm nguồn thu từ rơm.
Điều này cho thấy mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp không chỉ là câu chuyện môi trường. Nếu được tổ chức tốt, đây còn là giải pháp kinh tế giúp người trồng lúa giảm chi phí, tăng hiệu quả và từng bước thay đổi phương thức sản xuất truyền thống.
Cà Mau, Vĩnh Long ghi nhận tín hiệu tích cực
Tại Cà Mau, năm 2025, đề án được triển khai thí điểm tại hai xã Vĩnh Thanh và Đá Bạc thông qua hai hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hồng Phát và Kinh Dớn. Dù quy mô còn khiêm tốn, kết quả bước đầu cho thấy mô hình có tính khả thi để tiếp tục đánh giá và mở rộng trong thời gian tới.
Tại HTX dịch vụ nông nghiệp Kinh Dớn, xã Đá Bạc, có 42 xã viên tham gia mô hình với tổng diện tích 60ha, canh tác giống lúa ST24. Vụ hè thu vừa qua, năng suất đạt từ 6–6,5 tấn/ha, cao hơn so với cùng kỳ. Riêng gia đình ông Phạm Tấn Lưu canh tác gần 3ha, thu hoạch hơn 17 tấn lúa, tăng khoảng 2 tấn so với những năm trước.
Một điểm đáng chú ý là lượng giống gieo sạ giảm mạnh, từ 112kg/ha xuống còn khoảng 70kg/ha. Khi lúa được gieo thưa, nông dân giảm được phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời sâu rầy cũng ít xuất hiện hơn. Đây là thay đổi quan trọng trong tư duy canh tác: không phải gieo thật dày mới đạt năng suất cao, mà gieo đúng mật độ mới giúp cây lúa phát triển khỏe.
Cũng tại HTX Kinh Dớn, nhờ liên kết của hợp tác xã, lúa của xã viên được bán với giá 8.400 đồng/kg, cao hơn thị trường khoảng 200 đồng/kg. Cùng với việc giảm chi phí đầu vào, mức giá này giúp nông dân cải thiện thu nhập.
Về môi trường, vụ hè thu tại HTX Kinh Dớn giúp giảm phát thải khoảng 3,02 tấn CO₂/ha, tương đương giảm 37% so với trước khi áp dụng mô hình và đạt 6/6 chỉ tiêu giảm phát thải theo yêu cầu của đề án.
Tại Vĩnh Long, đề án được triển khai từ vụ hè thu 2024. Đến nay, địa phương có hơn 5.088ha lúa tham gia. Qua đánh giá sơ bộ, lúa trong mô hình đạt năng suất 6,4–6,8 tấn/ha, lợi nhuận cao hơn 4,3–5,6 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình nhờ chi phí sản xuất giảm.
Có lời nhưng nông dân vẫn dè dặt
Dù những con số về năng suất, chi phí và lợi nhuận khá tích cực, mô hình vẫn chưa tạo được sức hút mạnh với nông dân ở nhiều nơi. Lý do quan trọng nhất là giá lúa chưa có sự chênh lệch đủ lớn so với thị trường.
Nhiều nông dân thừa nhận mô hình giúp giảm chi phí, giảm phát thải và tăng ứng dụng kỹ thuật. Tuy nhiên, lợi ích môi trường chưa chuyển hóa thành giá trị kinh tế rõ ràng. Khi giá lúa sản xuất theo quy trình phát thải thấp vẫn gần tương đương lúa thường, nông dân khó có động lực mạnh để thay đổi.
Theo phản ánh từ thực tế, nếu giá lúa trong mô hình cao hơn thị trường khoảng 300–500 đồng/kg, người dân sẽ tích cực tham gia hơn. Đây là mức chênh lệch không quá lớn, nhưng đủ để nông dân cảm nhận được giá trị của việc sản xuất theo quy trình khắt khe hơn.
Tại Cà Mau, diện tích canh tác nhỏ lẻ khiến thương lái không đến tận nơi thu mua, nông dân phải bán lúa với giá tương đương lúa thường dù đã sản xuất theo quy trình an toàn hơn. Đây là điểm nghẽn rất lớn: làm tốt hơn nhưng bán không được giá cao hơn, khiến người sản xuất dễ nản lòng.
Hạ tầng, máy móc và rơm rạ còn là rào cản
Ngoài đầu ra, mô hình còn gặp khó ở hạ tầng và cơ giới hóa. Một số nơi phản ánh máy sạ dễ bị lún, quy trình rút nước phụ thuộc thời tiết, thiếu máy cuộn rơm và chưa có đầu ra ổn định cho rơm rạ.
Trong mô hình lúa phát thải thấp, rơm rạ không chỉ là phụ phẩm, mà có thể trở thành nguồn thu bổ sung nếu được thu gom, xử lý và tiêu thụ tốt. Tuy nhiên, nếu thiếu máy móc và đầu ra, rơm rạ vẫn là gánh nặng sau thu hoạch, thậm chí làm phát sinh thêm chi phí cho nông dân.
Hạ tầng giao thông nội đồng yếu cũng làm tăng chi phí vận chuyển, thu hoạch và thu gom. Khi đồng ruộng manh mún, đường nội đồng chưa thuận lợi, việc đưa máy móc hiện đại vào sản xuất gặp nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng mô hình trên diện rộng.
Khi hết hỗ trợ, sức hút có thể giảm
Một lo ngại khác là mô hình hiện vẫn phụ thuộc khá nhiều vào chính sách hỗ trợ ban đầu. Ở một số địa phương, nông dân tham gia được hỗ trợ giống, vật tư hoặc kỹ thuật. Tuy nhiên, khi chính sách ưu đãi giảm dần, việc vận động nông dân tiếp tục tham gia trở nên khó khăn hơn.
Tại Vĩnh Long, đại diện HTX nông nghiệp Phát Tài cho rằng sau giai đoạn đầu được hỗ trợ, nếu không còn chính sách ưu đãi, nông dân có thể không còn mặn mà. Đây là thực tế cần được nhìn nhận thẳng thắn. Một mô hình muốn bền vững không thể chỉ dựa vào hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo ra lợi ích kinh tế đủ rõ ràng để người dân tự nguyện theo đuổi.
Nói cách khác, đề án muốn đi xa phải chứng minh được rằng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp không chỉ tốt khi có hỗ trợ, mà vẫn có lợi khi vận hành theo cơ chế thị trường.
Liên kết doanh nghiệp chưa thông suốt
Một điểm nghẽn lớn khác là khâu liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Doanh nghiệp muốn tham gia nhưng quá trình phê duyệt dự án tại địa phương còn chậm, khiến liên kết sản xuất chưa thể triển khai trên diện rộng.
Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An, cho biết doanh nghiệp đã đăng ký tham gia ba dự án thuộc đề án với quy mô 15.000ha tại TP Cần Thơ, 20.000ha tại An Giang và 10.000ha tại Tây Ninh. Tuy nhiên, gần hai năm qua, chưa có địa phương nào phê duyệt dự án để doanh nghiệp triển khai liên kết với nông dân, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm.
Đây là vấn đề rất đáng chú ý. Nếu doanh nghiệp chưa được tham gia chính thức, mô hình sẽ khó mở rộng từ thí điểm sang sản xuất hàng hóa lớn. Nông dân cần đầu ra ổn định, hợp tác xã cần đầu mối tổ chức, còn doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Khi ba bên chưa liên kết chặt, đề án khó phát huy đầy đủ hiệu quả.
Vốn tín dụng chưa đến được nông dân và doanh nghiệp
Nguồn vốn là một mắt xích quan trọng để đề án vận hành. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tín dụng cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao vẫn rất thấp.
Theo thông tin được cung cấp, dù Agribank đã khảo sát và sẵn sàng bố trí vốn, nhưng do chưa có địa phương phê duyệt dự án nên doanh nghiệp và nông dân chưa thể tiếp cận nguồn vốn. Đến ngày 30-11-2025, dư nợ cho vay theo đề án trong khu vực ĐBSCL chỉ hơn 6,8 tỉ đồng; riêng Agribank Chi nhánh Cần Thơ II chưa phát sinh khoản vay, mới dừng ở khảo sát với hợp tác xã và doanh nghiệp.
Nguyên nhân được nêu là Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương chưa rà soát, điều chỉnh và công bố lại đề án phù hợp với địa giới hành chính mới; chưa có vùng quy hoạch chi tiết và danh sách cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia. Đồng thời, định mức kinh tế kỹ thuật, chi phí sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp và thủ tục xác nhận gạo sản xuất theo quy trình giảm phát thải cũng chưa được công bố đầy đủ.
Khi thiếu cơ sở pháp lý và kỹ thuật rõ ràng, ngân hàng khó giải ngân, doanh nghiệp khó triển khai, còn nông dân tiếp tục phải tự xoay xở. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ sớm nếu muốn mở rộng đề án.
“Gạo Việt xanh phát thải thấp” là tín hiệu tích cực
Dù còn nhiều khó khăn, đề án đã có những kết quả đáng ghi nhận về xây dựng nhãn hiệu và thương mại hóa sản phẩm. Theo ông Lê Thanh Tùng, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký VIETRISA, trong năm 2025, Việt Nam đã xây dựng và đưa vào sử dụng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”. Nhãn hiệu này đã được cấp chứng nhận quyền sử dụng cho 8 doanh nghiệp, với tổng diện tích được chứng nhận 18.048ha, tương ứng 71.420 tấn gạo được chứng nhận. Đặc biệt, lần đầu tiên có doanh nghiệp xuất khẩu 500 tấn gạo mang nhãn hiệu này sang Nhật Bản.
Đây là tín hiệu quan trọng vì nó cho thấy lúa phát thải thấp có thể đi ra thị trường bằng một nhận diện riêng. Tuy nhiên, để nhãn hiệu này thật sự tạo động lực cho nông dân, cần có cơ chế để giá trị gia tăng quay trở lại người sản xuất. Nếu gạo xanh bán được vào thị trường cao cấp nhưng giá lúa tại ruộng không tăng tương xứng, nông dân sẽ khó cảm nhận lợi ích thực tế.
Cần đột phá về đầu ra và thị trường carbon
Theo các ý kiến trong nội dung được cung cấp, muốn đề án thành công, cần giải quyết bài toán đầu ra. Khi không có đầu ra ổn định, không thể tổ chức vùng nguyên liệu lớn và cũng không thể bảo đảm đầy đủ lợi ích cho nông dân.
Bên cạnh đó, việc đo đếm phát thải nhà kính hiện đã có quy trình và thiết bị, nhưng chi phí còn cao, phụ thuộc vào cán bộ kỹ thuật và chuyên gia. Vì vậy, địa phương kiến nghị cần có cơ chế ưu đãi riêng để áp dụng vào thực tiễn, đồng thời hình thành thị trường carbon để người dân có thu nhập thực tế từ tín chỉ carbon.
Đây là vấn đề then chốt. Nếu nông dân tham gia sản xuất giảm phát thải nhưng chưa được hưởng lợi từ phần giảm phát thải đó, mô hình sẽ khó tạo sức hút dài hạn. Khi tín chỉ carbon được đo đếm, xác nhận và thương mại hóa minh bạch, người trồng lúa mới có thêm nguồn thu ngoài hạt lúa.
Vì sao nông dân chưa mặn mà?
Từ thực tế triển khai, có thể thấy nông dân chưa mặn mà không phải vì mô hình không hiệu quả. Ngược lại, mô hình đã chứng minh được khả năng giảm chi phí, tăng năng suất, nâng lợi nhuận và giảm phát thải. Vấn đề là lợi ích hiện nay chưa đủ rõ, chưa đủ ổn định và chưa được bảo đảm bằng liên kết thị trường chắc chắn.
Người nông dân cần nhìn thấy ba điều: giá lúa cao hơn lúa thường; đầu ra có doanh nghiệp bao tiêu ổn định; và các chi phí chuyển đổi, đo đếm, cơ giới hóa, lưu kho, xử lý rơm rạ không trở thành gánh nặng mới. Nếu thiếu các yếu tố này, nông dân sẽ tiếp tục cân nhắc, nhất là khi họ phải chịu rủi ro trực tiếp trên ruộng đồng.
Muốn mở rộng phải tổ chức lại toàn chuỗi
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp là hướng đi đúng trong bối cảnh ngành lúa gạo Việt Nam cần nâng chất lượng, giảm phát thải và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Tuy nhiên, từ thí điểm đến nhân rộng là một chặng đường không đơn giản.
Muốn mô hình thật sự lan tỏa, cần đồng thời tháo gỡ nhiều điểm nghẽn: hoàn thiện cơ chế phê duyệt dự án cho doanh nghiệp; công bố rõ vùng quy hoạch, danh sách đối tượng tham gia; ban hành định mức kinh tế kỹ thuật; khơi thông vốn tín dụng; nâng cấp hạ tầng nội đồng; phát triển dịch vụ cơ giới hóa; xây dựng đầu ra cho rơm rạ; và quan trọng nhất là tạo được giá bán vượt trội cho lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Nông dân sẽ không ngại thay đổi nếu mô hình giúp họ có thu nhập tốt hơn và ít rủi ro hơn. Nhưng để làm được điều đó, sản xuất xanh phải đi kèm thị trường xanh, tín dụng xanh và cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng.
Có thể nói, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao đã có lời giải bước đầu về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. Phần khó nhất còn lại là tổ chức thị trường. Khi đầu ra được bảo đảm, vốn được khơi thông, doanh nghiệp được tham gia sâu và người nông dân được hưởng lợi rõ ràng từ hạt lúa xanh, khi đó mô hình mới có thể chuyển từ “thí điểm có lời” sang “phong trào sản xuất bền vững” trên toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.





