Đồng bằng sông Cửu Long hiện chiếm khoảng 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, trong thời điểm nông dân bước vào thu hoạch rộ lúa Đông Xuân 2026, hoạt động tiêu thụ lúa gạo lại gặp nhiều khó khăn do xuất khẩu chậm, giá gạo giảm và chi phí logistics tăng cao.
Tình trạng này đang đặt ra yêu cầu cần có các giải pháp hỗ trợ kịp thời cho cả nông dân và doanh nghiệp, nhằm giảm áp lực tồn kho, ổn định giá lúa và duy trì hoạt động xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới nhiều biến động.
Xuất khẩu tăng lượng nhưng giảm giá trị
Theo Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, tính đến ngày 15/3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,74 triệu tấn gạo, đạt trị giá 826,2 triệu USD. Dù sản lượng tăng 2,3% so với cùng kỳ, giá trị xuất khẩu lại giảm 8,7% do giá xuất khẩu bình quân giảm còn 477,6 USD/tấn.
Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam sau khi dỡ bỏ lệnh tạm ngừng nhập khẩu, chiếm gần 56% tổng lượng xuất khẩu, đạt hơn 711.000 tấn, tăng 30% so với cùng kỳ. Trung Quốc cũng ghi nhận mức tăng mạnh 143,7%, góp phần giảm áp lực tồn kho đầu năm. Ngoài ra, Malaysia và Australia cũng tăng nhập khẩu gạo Việt Nam, lần lượt ở mức 155% và 30,6%.
.png)
Một tín hiệu tích cực là cơ cấu xuất khẩu gạo đang chuyển dịch rõ hơn sang phân khúc chất lượng cao. Gạo trắng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 60%, nhưng gạo thơm và gạo chất lượng cao, trong đó có các dòng ST, đã đạt tỷ trọng gần 26%. Đây là xu hướng phù hợp với định hướng đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam.
Gạo Việt Nam cũng đang thâm nhập sâu hơn vào các thị trường có tiêu chuẩn cao như châu Âu và Nhật Bản. Dù khối lượng chưa lớn, nhưng giá trị đơn hàng cao và việc đáp ứng được các yêu cầu khắt khe cho thấy chất lượng gạo Việt đã có bước tiến đáng ghi nhận.
Chi phí logistics tăng, doanh nghiệp thận trọng thu mua
Bên cạnh tín hiệu tích cực từ một số thị trường, xuất khẩu gạo vẫn đang đối mặt nhiều khó khăn. Xung đột tại khu vực Trung Đông bùng phát từ cuối tháng 2/2026 đã tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng, khiến chi phí logistics tăng mạnh.
Giá dầu thế giới leo thang làm chi phí vận chuyển trong nước tăng thêm khoảng 20.000 - 30.000 đồng/tấn gạo. Trên tuyến quốc tế, các hãng tàu liên tục điều chỉnh giá cước, thay đổi lịch trình hoặc cắt giảm chuyến đến khu vực Trung Đông để tránh rủi ro. Tình trạng thiếu container rỗng cũng khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc đóng hàng số lượng lớn.
Không chỉ vậy, thời gian vận chuyển kéo dài thêm 10 - 15 ngày, trong khi chi phí bảo hiểm và bao bì tăng do giá hạt nhựa đi lên. Nhiều thương nhân xuất khẩu rơi vào tình thế khó khăn với các đơn hàng đã ký trước đó, thậm chí phải tạm hoãn giao hàng hoặc thận trọng hơn khi ký hợp đồng mới.
Hệ quả là xuất khẩu sang một số thị trường châu Phi giảm mạnh, như Senegal giảm 53%, Bờ Biển Ngà giảm 68% và Indonesia giảm 81%.
Trong khi đó, nguồn cung trong nước năm 2026 được dự báo khá thuận lợi. Diện tích gieo trồng ước đạt 7,09 triệu ha, sản lượng dự kiến 43,55 triệu tấn lúa, tăng nhẹ so với năm 2025. Lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu cả năm ước khoảng 7,73 triệu tấn, trong đó sáu tháng đầu năm cung ứng hơn 4 triệu tấn.
Nguồn cung lớn trong khi xuất khẩu gặp khó đã khiến việc tiêu thụ lúa của nông dân bị chậm lại. Nhiều nơi ghi nhận tình trạng thương lái bỏ cọc hoặc mua với giá thấp hơn. Giá lúa chất lượng cao như OM, Đài Thơm 8 chỉ khoảng 6.000 đồng/kg, thấp hơn so với vụ Đông Xuân 2025 nhưng vẫn khó tìm người mua.
Cần giải pháp tín dụng, tạm trữ và hỗ trợ thị trường
Trước tình hình tiêu thụ lúa chậm, nhiều doanh nghiệp cho rằng cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng để tăng khả năng thu mua tạm trữ.
Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, cho biết doanh nghiệp muốn thu mua thêm lúa tạm trữ nhưng đã hết hạn mức vay. Ông kiến nghị cần tăng hạn mức cho vay mua lúa tạm trữ; đồng thời, ngân hàng thương mại cần có gói tín dụng ưu đãi riêng cho thu mua tạm trữ lúa gạo, không tính vào hạn mức vay thông thường của doanh nghiệp.
Tại Đồng Tháp, địa phương sản xuất lúa lớn của vùng, đại diện Sở Công thương kiến nghị cần nới lỏng quy định thanh toán chuyển khoản đối với giao dịch từ 5 triệu đồng trở lên, do quy định này gây khó khăn cho hoạt động thu mua lúa. Thực tế, nhiều nông dân không bán được lúa, phải đem về phơi trong khi chi phí và áp lực sau thu hoạch tăng lên.
Đồng Tháp cũng đề xuất bên cạnh việc nới hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp thu mua tạm trữ, cần có cơ chế kiểm soát gạo nhập khẩu từ Ấn Độ và Campuchia để hạn chế tác động đến tiêu thụ trong nước.
Tại Cần Thơ, nơi có 35 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo trực tiếp và gia công chế biến gạo cung ứng xuất khẩu, năm 2026 địa phương đặt mục tiêu xuất khẩu 2 triệu tấn gạo, kim ngạch khoảng 1 tỷ USD. Lãnh đạo thành phố kiến nghị các bộ, ngành sớm có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân, như miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng hạn mức tín dụng để doanh nghiệp có thêm nguồn lực thu mua lúa cho nông dân.
Về lâu dài, cần sớm hoàn thiện quy hoạch sản xuất lúa gạo theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp; đồng thời xây dựng chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.
Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, việc tăng mua dự trữ lương thực quốc gia, cùng chính sách thu mua, tạm trữ lúa hàng hóa cho nông dân được xem là giải pháp cần thiết để giữ giá, giảm áp lực tiêu thụ và nâng cao giá trị hạt gạo.
Có thể thấy, khó khăn của thị trường lúa gạo hiện nay không chỉ nằm ở giá xuất khẩu giảm, mà còn ở chi phí logistics, tín dụng thu mua và khả năng kết nối đầu ra. Vì vậy, các giải pháp hỗ trợ cần được triển khai đồng bộ, vừa giải quyết áp lực trước mắt cho vụ Đông Xuân 2026, vừa tạo nền tảng cho ngành gạo phát triển ổn định và bền vững hơn trong thời gian tới.
Nguồn https://nhandan.vn/tim-phuong-an-ho-tro-nong-dan-doanh-nghiep-tieu-thu-lua-gao-post952548.html





