Người “thổi hồn” cho gạo Việt
Khi nhắc đến gạo thơm đặc sản Sóc Trăng, nhiều người nghĩ ngay đến dòng gạo ST gắn với tên tuổi kỹ sư Hồ Quang Cua. Từ một cán bộ nông nghiệp ở vùng đất Mỹ Xuyên, ông đã dành gần 30 năm để nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo giống lúa thơm, góp phần đưa hạt gạo Việt Nam bước vào phân khúc chất lượng cao trên thị trường trong nước và quốc tế.
Hành trình ấy không chỉ là câu chuyện của một nhà khoa học miệt mài với đồng ruộng, mà còn là khát vọng làm ra giống lúa có giá trị cao hơn, giúp nông dân bớt nhọc nhằn và nâng tầm thương hiệu gạo Việt.
.png)
Gần 30 năm đi tìm giống lúa thơm cho Việt Nam
Năm 1992, khi còn là chuyên viên nông nghiệp của huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, kỹ sư Hồ Quang Cua bắt đầu mày mò tìm hiểu về lúa thơm. Thời điểm đó, câu chuyện về giống lúa thơm chất lượng cao của Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Sau hơn 8 năm nghiên cứu, giống lúa thơm ST3 ra đời và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xét đặc cách công nhận là giống lúa quốc gia.
Dù ST3 hiện không còn phổ biến trên đồng ruộng do không còn phù hợp với điều kiện khí hậu ngày nay, nguồn gen thơm ngon của giống lúa này vẫn tiếp tục được lưu truyền trong các giống ST sau này. Thành quả đầu tiên đó đã tạo niềm tin để ông Cua hình thành một êkip nghiên cứu, từng bước nâng cao trình độ và tiếp tục theo đuổi con đường chọn tạo giống lúa thơm.
.png)
Sau ST3, các giống ST19, ST20 tiếp tục được thị trường đón nhận. Năm 2008 và những năm sau đó, ST19, ST20 được tiêu thụ với giá khoảng 6.000 đồng/kg lúa tươi, cao gấp rưỡi lúa thường. Chính kết quả này khiến ông Cua nhận ra rằng muốn đời sống nông dân thay đổi, không thể chỉ làm ra nhiều lúa giá thấp, mà phải tạo được giống lúa có giá trị cao, bán được giá tốt hơn.
Năm 2010, khi dự một hội nghị của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế tại Hà Nội, ông nghe nhiều lời biểu dương về đóng góp của lúa gạo Việt Nam đối với an ninh lương thực toàn cầu. Nhưng phía sau niềm tự hào ấy, ông vẫn nhìn thấy đời sống nông dân còn nhiều khó khăn. Từ đó, ông càng tin rằng con đường đúng là phải tạo ra giống lúa ngon, chất lượng cao, có giá trị thương mại lớn hơn.
Từ ST20, ST24 đến khát vọng nâng tầm hạt gạo Việt
Sau nhiều năm chọn lọc và lai tạo, kỹ sư Hồ Quang Cua cùng cộng sự đã có nhiều giống lúa được công nhận, trong đó ST20 từng đoạt giải nhất gạo ngon tại Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ 2 năm 2011 và sau đó ra thị trường thế giới. Đến cuối năm 2017, ST24 tiếp tục tạo tiếng vang khi lọt vào top 3 “gạo ngon nhất thế giới” tại cuộc thi quốc tế ở Macau.
Để có được ST24, ông Cua đã trải qua một hành trình dài. Giống lúa này được chọn từ hàng ngàn dòng, mất 11 năm để hoàn thiện, gồm 6 năm lai tạo ổn định, 2 năm khảo nghiệm, 2 năm sản xuất thử và 1 năm làm thủ tục công nhận giống quốc gia. Với ông, đó là kết quả của sự kiên trì, của rất nhiều lần lội ruộng, quan sát, chọn lọc và không bỏ cuộc dù có lúc gặp nhiều sóng gió.
Công việc chọn tạo giống lúa thơm không chỉ diễn ra ngoài đồng ruộng. Ông Cua cho rằng người làm giống phải có kiến thức di truyền vững, đồng thời cần sự tinh tế trong đánh giá chất lượng hạt gạo. Không chỉ nhìn hình dáng hạt thon dài, trắng đẹp, người làm giống còn phải nhận biết được hương thơm, độ ngon, độ ngọt và sự khác biệt của từng dòng lúa.
Ông cũng không chỉ làm việc trong phòng thí nghiệm hay khu chọn giống. Để hiểu thị trường, ông tìm đến các doanh nghiệp lúa gạo, vào siêu thị tại TP.HCM quan sát người tiêu dùng chọn gạo, thậm chí làm quen với khách hàng để lắng nghe góp ý về bao bì, mẫu mã và chất lượng. Chính sự gắn kết giữa nghiên cứu, thị trường và cảm nhận người tiêu dùng đã giúp các giống ST có chỗ đứng riêng.
ST24 không chỉ có chất lượng cao mà còn thích nghi tốt với nhiều vùng canh tác. Theo kỹ sư Cua, giống lúa này chịu được đất mặn ở Trà Vinh, Sóc Trăng, bán đảo Cà Mau, đồng thời cũng phát triển tốt trên vùng đất phèn Mộc Hóa, Kiến Tường. Nếu trồng chính vụ, ST24 có thể đạt năng suất khoảng 6 tấn/ha, chi phí thấp hơn do ít tốn thuốc bảo vệ thực vật.
Thành công của ST24 đã góp phần nâng giá trị hạt lúa cho nông dân. Riêng tại Sóc Trăng, diện tích trồng ST24 có thời điểm đạt gần 10.000ha trong vụ đông xuân, giá lúa duy trì ở mức cao, giúp tăng thu nhập cho hàng vạn hộ dân. Có thời điểm, gạo ST24 xuất khẩu sang Trung Quốc tại chợ gạo Bà Đắc đạt 800 USD/tấn, cao gần gấp đôi gạo thường.
Từ giống tốt đến liên kết sản xuất lúa hữu cơ vùng mặn
Câu chuyện nâng giá trị hạt gạo Việt không chỉ dừng lại ở chọn tạo giống lúa thơm. Tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, mô hình sản xuất lúa hữu cơ trên vùng đất mặn cũng cho thấy một hướng đi mới, gắn giữa chất lượng, liên kết tiêu thụ và thu nhập của nông dân.
Từ vùng chuyên nuôi tôm, nơi cây lúa từng chỉ được xem là nguồn thu phụ và đầu ra bấp bênh, nhiều nông dân Thạnh Phú đã chuyển sang sản xuất lúa hữu cơ. Họ liên kết với doanh nghiệp, tham gia tổ hợp tác để ổn định đầu ra và nâng giá trị sản phẩm.
Nông dân Lê Văn Miền ở xã An Nhơn cho biết trước đây mô hình một vụ lúa, một vụ tôm theo hình thức quảng canh cho thu nhập từ lúa khá thấp. Khi chuyển sang liên kết với công ty bao tiêu sản phẩm lúa hữu cơ, hiệu quả kinh tế tăng rõ rệt. Giá lúa thường khoảng 6.000 - 7.000 đồng/kg, trong khi lúa hữu cơ đạt 8.300 - 8.500 đồng/kg.
Không chỉ bán được giá cao hơn, sản xuất lúa hữu cơ còn giúp hệ sinh thái ruộng tôm tốt hơn. Rong, tảo phát triển, trở thành nguồn thức ăn tự nhiên cho vụ tôm sau. Nhờ đó, tôm phát triển tốt hơn, giảm nhu cầu sử dụng thuốc và thức ăn công nghiệp, góp phần hạ giá thành nuôi tôm và tăng lợi nhuận.
Theo một số nông dân, chi phí dùng phân hữu cơ thấp hơn 40 - 50% so với phân hóa học. Sản phẩm làm ra được thương lái và doanh nghiệp bao tiêu, thậm chí có nơi chưa kịp gặt đã có người đến đặt cọc.
Tại Thạnh Phú, ngay từ năm đầu liên kết, diện tích khai thác mô hình lúa hữu cơ đã đạt hơn 200ha tại các xã An Nhơn, An Quy, Giao Thạnh với hơn 100 hộ tham gia. Năng suất trung bình hơn 5 tấn/ha, trong đó hơn 70ha đạt chứng nhận hữu cơ USDA và chứng nhận hữu cơ của EU.
Theo thông tin từ địa phương, toàn huyện Thạnh Phú có hơn 6.000ha sản xuất theo mô hình lúa - tôm, hình thành 25 tổ hợp tác sản xuất lúa và một hợp tác xã lúa sạch. Mô hình liên kết giúp nông dân bán gạo với giá cao hơn thị trường 30 - 40%. Có doanh nghiệp bao tiêu lúa sạch giá 7.600 đồng/kg, lúa hữu cơ giá tới 8.500 đồng/kg. Lợi nhuận trung bình của xã viên hợp tác xã đạt khoảng 40 - 50 triệu đồng/ha.
Từ hành trình chọn tạo giống lúa thơm ST của kỹ sư Hồ Quang Cua đến mô hình lúa hữu cơ vùng mặn Thạnh Phú, có thể thấy hạt gạo Việt Nam chỉ thật sự nâng giá trị khi có sự kết hợp giữa giống tốt, quy trình sản xuất phù hợp và liên kết thị trường. Người “thổi hồn” cho gạo Việt không chỉ tạo ra giống lúa ngon, mà còn góp phần thay đổi cách nhìn về cây lúa: từ sản phẩm số lượng lớn sang sản phẩm có chất lượng, thương hiệu và giá trị cao hơn.
Sau nhiều năm làm cầu nối, gầy dựng và chắp cánh cho hạt gạo ST, kỹ sư Hồ Quang Cua từng nói việc nhân rộng giống lúa không thể mãi là việc của một cá nhân. Đó là công việc của nhà quản lý, doanh nghiệp, nông dân và cả hệ thống ngành hàng. Bởi để gạo Việt đi xa, không chỉ cần giống tốt, mà cần một chuỗi sản xuất đủ bền vững để giữ được chất lượng, thương hiệu và niềm tin của thị trường.
Nguồn: https://cuoituan.tuoitre.vn/nguoi-thoi-hon-cho-gao-viet-1497277.htm





