Sản phẩm

Kỹ thuật canh tác lúa ST24, ST25 vụ Đông Xuân đạt năng suất cao

Vụ Đông Xuân được xem là vụ sản xuất quan trọng của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long, bởi điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, ít mưa, nền nhiệt ổn định và khả năng đạt năng suất cao hơn so với nhiều vụ khác trong năm. Với các giống lúa chất lượng cao như ST24, ST25, nếu áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, nông dân có thể vừa nâng năng suất, vừa bảo đảm chất lượng hạt gạo, từ đó gia tăng hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích canh tác.

Theo nội dung kỹ thuật được cung cấp, nhóm giống lúa ST phù hợp với điều kiện sản xuất tại Đồng bằng sông Cửu Long nhờ khả năng chịu phèn, mặn và chống chịu sâu bệnh tương đối tốt. Đặc biệt, nếu canh tác đúng quy trình trong vụ Đông Xuân, lúa ST24, ST25 có thể đạt năng suất khoảng 7–9 tấn/ha, đồng thời giữ được chất lượng gạo thơm ngon, đáp ứng nhu cầu thị trường.

ST24, ST25 – giống lúa chất lượng cao phù hợp vùng ĐBSCL

ST24 và ST25 là các giống lúa thơm đặc sản do kỹ sư Hồ Quang Cua cùng cộng sự lai tạo, được chọn lọc từ nguồn giống lúa thơm nổi tiếng của vùng Sóc Trăng. Đây là nhóm giống có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng nhờ chất lượng hạt gạo đẹp, cơm thơm, mềm và có vị ngon đặc trưng.

Theo tài liệu kỹ thuật, giống ST24 có thời gian sinh trưởng trung bình khoảng 103–105 ngày, cây cao khoảng 110–115cm, thân cứng cáp, bộ lá đứng, bông to, dày nách và ít lép. Hạt gạo ST24 dài, trắng đẹp, khi nấu cho cơm thơm, mềm và ngọt. Năng suất trung bình có thể đạt 8–9 tấn/ha.

Trong khi đó, ST25 có thời gian sinh trưởng vụ Đông Xuân khoảng 105–115 ngày, vụ Hè Thu khoảng 102–110 ngày. Cây cao trung bình 105–110cm, thân cứng, chống đổ ngã tốt, bông to, ít lép. Hạt gạo ST25 dẹp, thon dài, trắng trong, không bạc bụng; cơm thơm và vị đậm. Năng suất trung bình khoảng 6,5–7 tấn/ha.

Cả hai giống đều có khả năng chịu phèn, mặn ở mức khoảng 2‰, không nhiễm bệnh sọc trong, đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông. Tuy nhiên, nếu bón thừa đạm, cây có thể nhiễm nhẹ cháy bìa lá và nhiễm rầy nâu tương đối. Vì vậy, muốn đạt năng suất cao, nông dân cần đặc biệt chú ý đến khâu bón phân cân đối và quản lý sâu bệnh.

Chuẩn bị đất kỹ, xử lý phèn mặn ngay từ đầu vụ

Để vụ Đông Xuân đạt hiệu quả, khâu chuẩn bị đất có vai trò rất quan trọng. Ruộng cần được dọn sạch cỏ dại, tàn dư vụ trước, xử lý lúa lộn và rơm rạ sau thu hoạch nhằm hạn chế nguồn sâu bệnh lưu tồn.

Đất cần được cày bừa kỹ từ 2–3 lần để tơi xốp, sau đó san phẳng mặt ruộng bằng máy cày bánh lồng. Việc san phẳng giúp quản lý nước tốt hơn, hạn chế nơi quá sâu hoặc quá cạn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho gieo sạ, chăm sóc và thu hoạch.

Ở các vùng đất phèn phổ biến tại Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, tài liệu khuyến cáo bón vôi bột khoảng 500–1.000kg/ha để khử phèn, nâng pH đất lên mức 5,5–6,5. Bên cạnh đó, nông dân nên bón lót phân chuồng hoai mục 10–15 tấn/ha hoặc phân hữu cơ vi sinh để tăng độ phì nhiêu, cải thiện đất và giải độc hữu cơ.

Đối với vùng có nguy cơ nhiễm phèn, cần rửa phèn bằng cách bơm nước ngọt vào ruộng, ngâm 2–3 ngày rồi xả ra. Hệ thống thủy lợi phải bảo đảm để chủ động kiểm soát nguồn nước, nhất là tại những vùng có nguy cơ mặn xâm nhập cuối vụ Đông Xuân.

Chọn giống chuẩn, xử lý giống đúng quy trình

Với ST24, ST25, chất lượng giống quyết định rất lớn đến độ đồng đều, năng suất và chất lượng gạo sau thu hoạch. Nông dân nên chọn giống từ nguồn uy tín, bảo đảm độ thuần cao, hạt sáng, mẩy, không lẫn tạp.

Lượng giống khuyến cáo là khoảng 80–100kg/ha nếu sạ hàng; nếu cấy bằng máy, lượng giống có thể khoảng 70kg/ha. Việc giảm lượng giống gieo sạ giúp ruộng thông thoáng, cây lúa phát triển khỏe, giảm áp lực sâu bệnh và hạn chế đổ ngã.

Trước khi gieo, giống cần được ngâm trong nước ấm từ 36–48 giờ, tương đương 2 ngày 2 đêm, trong quá trình ngâm nên thay nước 2–3 lần. Sau đó, ủ ẩm đến khi hạt nứt nanh và đạt tỷ lệ nảy mầm tốt.

Gieo sạ vụ Đông Xuân đúng thời điểm

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thời vụ Đông Xuân đối với ST24, ST25 thường gieo sạ từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12. Đây là giai đoạn phù hợp để tránh lạnh hại, tận dụng nắng ấm và hạn chế rủi ro do mặn cuối vụ.

Nếu áp dụng phương pháp cấy, nông dân có thể gieo mạ trong khoảng 25/11 đến 10/12, sau đó cấy khi mạ đạt 15–20 ngày tuổi, có khoảng 4–5 lá thật. Khi cấy, cần bảo đảm mật độ khoảng 20–35 khóm/m², mỗi khóm 2–3 dảnh, cấy thẳng hàng và không cấy quá sâu, chỉ khoảng 2–3cm.

Trong sản xuất hiện nay, sạ hàng hoặc sạ thưa được khuyến khích hơn vì giúp lúa phát triển thông thoáng, dễ chăm sóc, giảm sâu bệnh và tiết kiệm giống. Đặc biệt ở vùng lúa – tôm, sạ thưa còn giúp cây lúa tận dụng tốt nguồn dinh dưỡng còn lại trong đất sau vụ tôm.

Bón phân cân đối, tăng Kali để nâng chất lượng gạo

Bón phân là khâu then chốt để lúa ST24, ST25 đạt năng suất cao và chất lượng ổn định. Nhóm giống ST cần được bón cân đối, đặc biệt chú trọng Kali để giúp cây cứng, tăng khả năng chống đổ ngã và cải thiện chất lượng hạt gạo.

Theo khuyến cáo, lượng phân cần điều chỉnh theo từng loại đất. Với đất phù sa ít phèn, lượng đạm khoảng 90–100kg N/ha, lân 30–40kg P₂O₅/ha, Kali 30–40kg K₂O/ha. Với đất phèn nhẹ, lượng đạm khoảng 80–100kg N/ha, lân 40–50kg P₂O₅/ha, Kali 25–30kg K₂O/ha. Với đất phèn trung bình, lượng đạm giảm còn 68–80kg N/ha, lân tăng 50–60kg P₂O₅/ha, Kali 25–30kg K₂O/ha.

Bón lót nên thực hiện trước gieo sạ với phân chuồng 10–15 tấn/ha kết hợp phân lân 40–60kg/ha, sau đó cày bừa vùi vào đất để giải độc phèn và làm đất tơi xốp.

Ở các giai đoạn bón thúc, cần theo dõi sinh trưởng thực tế của cây. Đợt 1 vào khoảng 12–15 ngày sau sạ để thúc đẻ nhánh. Đợt 2 vào khoảng 24–26 ngày sau sạ, kết hợp đạm, lân và Kali. Giai đoạn đón đòng khoảng 48–55 ngày sau sạ cần theo dõi tim đèn để bón phù hợp, giảm đạm nếu lúa đã tốt. Khi lúa trổ lẹt xẹt, có thể bổ sung phân bón lá chứa Bo, Canxi, Magie để hỗ trợ trổ thoát và vào gạo tốt.

Với vùng lúa – tôm, lượng phân nên giảm khoảng 20–30% vì đất đã có nguồn dinh dưỡng tự nhiên từ vụ tôm. Với vụ Hè Thu, lượng đạm cũng cần giảm 15–20% so với vụ Đông Xuân.

Quản lý nước theo kỹ thuật ướt – khô xen kẽ

Quản lý nước hợp lý không chỉ giúp cây lúa phát triển tốt mà còn góp phần giảm phát thải và hạn chế sâu bệnh. Kỹ thuật tưới ướt – khô xen kẽ được khuyến khích áp dụng trong canh tác ST24, ST25 vụ Đông Xuân.

Giai đoạn 1–7 ngày sau sạ, ruộng cần giữ đủ ẩm để lúa nảy mầm và bén rễ. Giai đoạn 12–22 ngày sau sạ, tức thời kỳ đẻ nhánh, có thể rút nước để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu, giúp cây cứng cáp và tăng khả năng chống chịu.

Giai đoạn 28–40 ngày sau sạ, khi cây bước vào phân hóa đòng và làm đòng, việc rút nước giúp bộ rễ phát triển sâu, tăng khả năng hút dinh dưỡng và chuẩn bị cho giai đoạn làm đòng khỏe. Trước khi thu hoạch, nên rút nước từ 7–15 ngày để lúa chín đồng loạt, giảm ẩm độ hạt và giúp máy gặt hoạt động thuận lợi hơn.

Trong trường hợp áp dụng đơn giản hơn, nông dân có thể rút nước một lần giữa vụ vào giai đoạn 28–40 ngày sau sạ. Chỉ đưa nước vào lại khi mực nước xuống thấp dưới mặt đất 15cm hoặc mặt ruộng nứt chân chim, sau đó giữ mức nước ngập tối đa 5cm.

Phòng trừ sâu bệnh theo hướng IPM

ST24, ST25 có khả năng kháng tương đối tốt với một số bệnh phổ biến như đạo ôn, bạc lá, rầy nâu. Tuy nhiên, trong điều kiện canh tác thực tế, nông dân vẫn cần theo dõi thường xuyên các đối tượng như sâu cuốn lá, lem lép hạt và trổ nghẹn.

Biện pháp phù hợp là áp dụng IPM, tức quản lý dịch hại tổng hợp. Nông dân cần kết hợp thăm đồng thường xuyên, bảo vệ thiên địch, sử dụng thuốc sinh học khi có thể và chỉ dùng thuốc hóa học khi thật cần thiết. Khi phun thuốc, phải đúng liều lượng, đúng thời điểm và tuân thủ thời gian cách ly từ 7–14 ngày.

Đối với bệnh lem lép hạt, cần phun phòng trước trổ khoảng 5–7 ngày để bảo vệ bông lúa, hạn chế thiệt hại trong giai đoạn hình thành hạt.

Thu hoạch đúng thời điểm để giữ chất lượng gạo

ST24, ST25 là nhóm giống có giá trị cao nên khâu thu hoạch và bảo quản cần được chú trọng. Thời điểm thu hoạch phù hợp là khi 85–90% hạt đã chín vàng, độ ẩm hạt khoảng 20–22%, thường rơi vào khoảng 110–120 ngày sau sạ.

Nên sử dụng máy gặt đập liên hợp để giảm hao hụt. Sau thu hoạch, lúa cần được phơi hoặc sấy kịp thời, tránh phơi dưới nắng quá gắt. Hạt lúa nên được sấy khô đến độ ẩm khoảng 14%, sau đó lưu kho nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ẩm mốc để giữ mùi thơm và chất lượng gạo.

Lưu ý các nhược điểm của giống ST

Dù có nhiều ưu điểm, ST24 và ST25 vẫn có một số điểm cần quản lý tốt. Do vỏ trấu mỏng, giống ST dễ nảy mầm trên bông nếu gặp mưa hoặc độ ẩm cao trong giai đoạn lúa chín. Để hạn chế tình trạng này, cần bổ sung Canxi, Magie và Kali qua phân bón lá nhằm giúp vỏ trấu chắc hơn.

Nông dân cũng nên chọn thời vụ Đông Xuân sớm, gieo sạ trong tháng 11–12 để tránh lúa trổ vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4, thời điểm dễ gặp mưa chuyển mùa. Khi lúa đạt giai đoạn ngậm sữa 80–85%, cần rút nước để lúa chín đồng đều, giảm độ ẩm ruộng. Khi 85% hạt chín vàng, nên thu hoạch kịp thời, không để quá lâu.

Một nhược điểm khác là giống ST có bông dài nên dễ gặp hiện tượng trổ nghẹn nếu thời tiết bất lợi hoặc thiếu dinh dưỡng. Để khắc phục, cần bổ sung Silic và Bo giúp bẹ lá, lá và bông lúa phát triển tốt hơn, hỗ trợ trổ thoát đồng loạt.

Riêng ST25 có thân mềm hơn ST24, vì vậy cần tăng độ cứng cây bằng cách cân đối đạm, Kali, Silic, Canxi và Bo. Ở vùng đất trũng, đất phèn, khó thoát nước, có thể tăng lượng Kali để cây cứng cáp, lá dày và hạn chế đổ ngã.

Canh tác đúng kỹ thuật để nâng năng suất và lợi nhuận

Vụ Đông Xuân là thời điểm thuận lợi để sản xuất lúa ST24, ST25 đạt năng suất và chất lượng cao. Tuy nhiên, để thành công, nông dân cần tuân thủ đồng bộ các khâu từ chọn giống, làm đất, xử lý phèn mặn, gieo sạ thưa, bón phân cân đối, quản lý nước đến phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch đúng lúc.

Đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, cần theo dõi thời tiết, xuống giống đúng lịch thời vụ địa phương, tránh hạn mặn cuối vụ và hạn chế nguy cơ dịch bệnh lan rộng. Ở vùng lúa – tôm, cần giảm phân, hạ phèn bằng lân lót và sạ thưa. Việc sử dụng công nghệ như drone để phun thuốc, giám sát đồng ruộng cũng có thể giúp tăng hiệu quả sản xuất.

Có thể nói, ST24 và ST25 là những giống lúa có tiềm năng kinh tế cao, phù hợp với nhiều vùng sản xuất tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu áp dụng đúng kỹ thuật, nông dân không chỉ đạt năng suất cao mà còn giữ được chất lượng gạo thơm ngon, qua đó nâng giá trị sản phẩm và tăng lợi nhuận trong vụ Đông Xuân.

Bài viết khác