Sản phẩm

Lý do Việt Nam nhập khẩu lúa gạo đứng thứ 2 thế giới

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, năm 2026 Việt Nam có thể nhập khẩu khoảng 3,9 triệu tấn lúa gạo và tăng lên 4 triệu tấn vào năm 2027. Với con số này, Việt Nam tiếp tục là nước nhập khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Philippines với khoảng 5,5 triệu tấn, vượt Trung Quốc, Nigeria, EU và Iraq.

Thông tin này thoạt nghe có vẻ bất ngờ, bởi Việt Nam vốn là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, với những người trong ngành, việc Việt Nam nhập khẩu lúa gạo với sản lượng lớn không phải là nghịch lý, mà phản ánh đặc điểm riêng của chuỗi cung ứng lúa gạo hiện nay.

Việt Nam chủ yếu nhập lúa nguyên liệu, không phải gạo thành phẩm

Điểm quan trọng cần làm rõ là Việt Nam hiện chủ yếu nhập lúa nguyên liệu, không phải nhập gạo thành phẩm để tiêu dùng như nhiều nước thiếu lương thực.

Theo TS Đào Minh Sô, tại nhiều tỉnh giáp biên giới Việt Nam - Campuchia, người Việt thuê đất tại Campuchia để trồng các giống lúa phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long như IR50404, OM5451, OM85 hay IR4625, sau đó đưa về Việt Nam tiêu thụ và chế biến.

Campuchia còn nhiều diện tích đất lúa chưa khai thác, đất khá màu mỡ và giá thuê thấp hơn nhiều so với Việt Nam. Giá thuê đất tại Campuchia dao động khoảng 100 - 300 USD/ha, tương đương 2,6 - 7,8 triệu đồng/ha, trong khi tại Đồng bằng sông Cửu Long phổ biến từ 15 - 26 triệu đồng/ha.

Chính chênh lệch chi phí đất đai này khiến hoạt động trồng lúa, thu mua lúa từ Campuchia đưa về Việt Nam ngày càng phát triển.

Lúa Campuchia giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí

Một nguyên nhân khác khiến Việt Nam nhập khẩu nhiều lúa gạo là lợi thế về chi phí. Lúa gạo nhập từ Campuchia hiện được hưởng thuế nhập khẩu 0%, giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Đại diện một doanh nghiệp kinh doanh gạo lớn tại TP.HCM cho biết, nếu không nhập khẩu từ Campuchia, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chắc chắn sẽ giảm đáng kể. Điều này cho thấy nguồn lúa nhập khẩu đang đóng vai trò bổ sung quan trọng cho chuỗi chế biến và thương mại gạo trong nước.

Ngoài Campuchia, một phần gạo nhập khẩu còn đến từ các nguồn như Ấn Độ, chủ yếu thuộc phân khúc giá thấp như gạo trắng và tấm. Theo ông Nguyễn Vĩnh Trọng, nguồn nguyên liệu này được sử dụng nhiều cho tiêu dùng nội địa, sản xuất bún, bánh, phở và đặc biệt là thức ăn chăn nuôi.

Nông dân Việt Nam chuyển sang gạo thơm, gạo cao cấp

Việc nhập khẩu lúa gạo tăng còn xuất phát từ sự thay đổi cơ cấu sản xuất trong nước. Nông dân Việt Nam đang chuyển mạnh sang trồng các giống gạo thơm, gạo chất lượng cao như OM18, Đài thơm 8, ST25, Nàng hoa để phục vụ xuất khẩu với giá trị cao hơn.

Trong khi đó, diện tích các giống gạo phổ thông như IR50404 hay OM5451 có xu hướng giảm. Bà Dương Thanh Thảo, Phó Giám đốc Công ty CP Gạo Ông Thọ, cho rằng khi nguồn gạo phổ thông trong nước giảm, nhu cầu nhập khẩu từ Campuchia sẽ gia tăng.

Nói cách khác, Việt Nam nhập khẩu nhiều hơn không phải vì thiếu năng lực sản xuất lúa gạo, mà vì ngành gạo đang phân hóa rõ hơn: trong nước ưu tiên gạo thơm, gạo cao cấp; còn một phần nhu cầu gạo phổ thông, gạo giá thấp được bổ sung từ nguồn nhập khẩu.

“Nước chảy chỗ trũng” và bài toán cân đối cung cầu

Theo doanh nghiệp, quy luật thị trường là “nước chảy chỗ trũng”. Khi gạo giá rẻ từ Campuchia có lợi thế về chi phí, nguồn hàng này sẽ tiếp tục chảy vào Việt Nam.

Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu phải quy hoạch hợp lý vùng trồng và cơ cấu giống lúa. Nếu không cân đối tốt cung - cầu, thị trường có thể rơi vào tình trạng thiếu hoặc dư thừa cục bộ, đồng thời làm tăng sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Đây là điểm cần được chú ý, nhất là trong bối cảnh lúa nhập khẩu từ Campuchia không chỉ là các loại gạo Việt Nam ít sản xuất, mà đã có cả những giống lúa hạt dài, cạnh tranh trực tiếp với nhiều giống phổ biến trong nước.

Gạo nhập khẩu gây áp lực lên giá lúa nội địa

Bên cạnh mặt tích cực là bổ sung nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu, lúa gạo nhập khẩu cũng tạo áp lực lên giá trong nước.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,3 triệu tấn gạo, thu về 1,57 tỉ USD, giảm 2,3% về sản lượng và giảm 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt khoảng 468,4 USD/tấn, giảm 9%.

Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết giá gạo xuất khẩu bình quân trong 4 tháng đầu năm 2026 xuống mức thấp nhất trong khoảng 5 năm gần đây. Trong bối cảnh giá gạo xuất khẩu giảm, lượng lúa nhập khẩu tăng mạnh từ Campuchia được cho là một yếu tố góp phần kéo mặt bằng giá lúa gạo trong nước xuống thấp.

Ông Phan Thành Bắc, Chủ tịch HĐQT HTX Nông nghiệp Sơn Hòa, nhận định nông dân canh tác trên đất nhà hiện chỉ còn lãi nhẹ, trong khi người thuê đất gần như chỉ hòa vốn. Đây là hệ quả đáng chú ý khi giá lúa nội địa chịu áp lực từ cả thị trường xuất khẩu giảm và nguồn cung nhập khẩu giá rẻ.

Cần hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành lúa gạo

Trước thực tế trên, Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam đề xuất Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ trực tiếp để nâng cao năng lực cho nông dân và hoàn thiện chuỗi cung ứng.

Các đề xuất đáng chú ý gồm: hỗ trợ nông dân vay vốn ưu đãi tương đương khoảng 2/3 chi phí sản xuất; hỗ trợ tích tụ đất đai; đầu tư dịch vụ hậu cần như sấy lúa, cơ giới hóa sản xuất; đồng thời nhìn nhận đội ngũ “cò lúa”, “lái lúa” như một mắt xích trong chuỗi cung ứng thay vì để hoạt động tự phát.

Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực cho các hợp tác xã để hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, đồng thời có cơ chế hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp liên kết sản xuất và tiêu thụ với hợp tác xã.

Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng được kỳ vọng sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng thu nhập cho nông dân và tăng sức cạnh tranh cho ngành lúa gạo Việt Nam.

Vẫn giữ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo

Một điểm đáng chú ý khác là Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP về cắt giảm ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện. Dù dự thảo trước đó từng đề xuất bãi bỏ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, quy định này cuối cùng vẫn được giữ lại.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, xuất khẩu gạo là ngành hàng đặc thù, liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia, sinh kế của hàng triệu nông dân và uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Vì vậy, lĩnh vực này vẫn cần được quản lý bằng điều kiện kinh doanh.

Tuy nhiên, VFA kiến nghị sửa đổi các điều kiện theo hướng thực chất hơn, tập trung vào năng lực bảo đảm nguồn hàng, tài chính, kho chứa, chế biến, kiểm soát chất lượng và trách nhiệm thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Không phải nghịch lý, mà là đặc điểm của chuỗi gạo Việt

Việt Nam nhập khẩu lúa gạo đứng thứ 2 thế giới không có nghĩa là Việt Nam thiếu gạo. Thực tế, Việt Nam vừa là nước xuất khẩu lớn, vừa là điểm chế biến, tiêu thụ và trung chuyển nguồn lúa gạo trong khu vực, đặc biệt từ Campuchia.

Nguyên nhân chính đến từ việc Việt Nam nhập nhiều lúa nguyên liệu giá thấp, được hưởng thuế 0%, trong khi nông dân trong nước đang chuyển sang các giống gạo thơm, gạo cao cấp có giá trị xuất khẩu cao hơn.

Tuy nhiên, xu hướng này cũng đặt ra bài toán quản lý quan trọng: làm sao tận dụng được nguồn nguyên liệu nhập khẩu để tối ưu sản xuất, nhưng không gây sức ép quá lớn lên giá lúa trong nước và thu nhập của nông dân.

Vì vậy, điều cần thiết trong thời gian tới là quy hoạch lại cơ cấu giống, hoàn thiện chuỗi cung ứng, hỗ trợ nông dân, nâng năng lực hợp tác xã và xây dựng cơ chế liên kết bền vững giữa doanh nghiệp với vùng nguyên liệu. Khi đó, ngành gạo Việt Nam mới có thể vừa giữ vị thế xuất khẩu, vừa bảo vệ tốt hơn lợi ích của người trồng lúa.

Bài viết khác